Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015
Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015
Tác dụng của thảo dược Feverfew với cơn đau nửa đầu
Đau nửa đầu là một bệnh thuộc loại bệnh lý đau đầu do căn nguyên mạch, có đặc điểm bệnh lý cơ bản là: đau nửa đầu từng cơn, gặp nhiều ở tuổi thanh thiếu niên, ở nữ gặp nhiều hơn nam và đa số có yếu tố gia đình.
Có nhiều lý thuyết giải thích cho cơ chế hình thành nên cơn đau nửa đầu. Đến nay, những lý thuyết được khoa học công nhận rộng rãi là những lý thuyết liên quan đến mạch máu và yếu tố kích hoạt cơn đau.
Khi sự co mạch xảy ra, làm dòng máu tới thùy chẩm bị tắc nghẽn, gây ra những triệu chứng như rối loạn thị giác trước khi xuất hiện cơn đau. Tiếp đó, khi sự co thắt dừng lại và mạch máu dãn ra, chúng trở nên to quá. Thành mạch máu đang cứng trở nên mềm và thẩm thấu nhiều gây thoát dịch. Sự thoát dịch được cảm nhận bởi các thụ thể đau trong mạch máu ở các mô xung quanh. Để đáp ứng lại, cơ thể cung cấp cho vùng đó các hóa chất gây viêm. Mỗi lần tim đập, đưa máu lên não, đi qua vùng nhạy cảm đó tạo ra một nhịp đau. Trong đó, serotonin là chất chủ yếu có liên quan tới sự co giãn mạch máu.
Do đó, việc điều trị cơn đau nửa đầu, giảm tái phát đau cần hướng tới đúng đích tác dụng theo cơ chế hình thành cơn đau : ức chế giải phóng chất gây viêm và giảm giải phóng serotonin, hoặc ức chế quá trình tái hấp thu serotonin.
Đồng thời với việc tác động lên cơ chế gây đau, cần có sự kết hợp với việc hạn chế các yếu tố kích thích cơn đau, và làm giảm các triệu chứng xuất hiện trong cơn đau nửa đầu như : nôn, buồn nôn..
Ngoài ra, một loại thảo dược cũng được các nhà khoa học liệt kê trong danh sách các chất điều trị đau nửa đầu là Feverfew – một loại cây thuộc họ Cúc, được trồng nhiều ở châu Âu, Mỹ và 1 số nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản.
Thảo dược Feverfew làm giảm cường độ và tần suất cơn đau nửa đầu
Feverfew được công nhận và sử dụng rộng rãi nhất cho các cơn đau nửa đầu, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, và tới năm 1963, Feverfew được khuyến cáo để chữa những chứng đau đầu trong cuốn sách Gerad’s Herbal. Từ đó tới nay, rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để chứng minh cho những ghi chép về loại thảo dược này.
Feverfew đã được phổ biến ở Anh trong những năm 1980 để điều trị chứng đau nửa đầu. Một cuộc khảo sát 270 người với chứng đau nửa đầu ở Anh cho thấy hơn 70% trong số họ cảm thấy tốt hơn nhiều sau khi uống trung bình 2 – 3 lá tươi Feverfew mỗi ngày, tuần suất xuất hiện cơn giảm giảm đáng kể.
Một nghiên cứu khác,có kết hợp sử dụng Feverfew với aspirin, cho thấy, những người sử dụng theo kết hợp này trong 12 tuần, đã có chứng đau nửa đầu ít hơn và cơn đau không còn kéo dài.
Một nghiên cứu lâm sàng trong 3 tháng với 49 người phát hiện ra rằng sự kết hợp của Feverfew, magiê, và vitamin B2 dẫn đến sự sụt giảm 50% chứng đau nửa đầu.
Feverfew có tác dụng tốt trên chứng đau nửa đầu là do việc tác động lên cơ chế hình thành cơn đau của các hoạt chất sinh học chính trong Feverfew : các sesquiterpene. Các chất này có tác dụng ức chế quá trình kết tập tiểu cầu – quá trình có giải phóng mạnh mẽ serotonin, giảm giải phóng serotonin. Đồng thời, dịch chiết Feverfew còn có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, do đó làm giảm co cơ trơn mạch máu và ức chế kết tập tiểu cầu. Feverfew làm giảm triệu chứng nôn và buồn nôn trong bệnh đau nửa đầu nhờ tác dụng ức chế giải phóng histamine – chất gây buồn nôn, nôn.
Đã có rất nhiều các nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng, kết quả cho thấy feverfew có tác dụng giảm cả cường độ và tần suất lặp lại cơn đau nửa đầu.
Trồng cây Fewer rất dễ, tót nhất trồng khi thời tiết ấm áp , gieo trực tiếp trên đất có án nắng và ít gió . Cây có thể tự mọc lại từ hạt giống của mình.
Hạt giống cây Fewerfew có thể mua ở các shop online như Amazon, Vườn Thảo Mộc
Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015
Kĩ thuật trồng bí đỏ

Cây bí đỏ Tên khoa học: Cucurbita pepo Cucurbita moschata Họ bầu bí: Cucurbitaceae
Bí đỏ có nguồn gốc Trung Mỹ, gồm 25 loài nhưng phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới là C. pepo và C. moschata, còn C. maxima thì thích hợp ở vùng khí hậu mát.
Sản phẩm sử dụng chính là trái giàu vitamin A, trái chứa 85 - 91% nước, chất đạm 0,8 - 2 g, chất béo 0,1 - 0,5 g, chất bột đường 3,3 - 11 g, cho năng lượng 85 -170 kJ/100 g. Ngoài ra, hoa, lá và đọt non cũng được dùng làm rau ăn.
2. Đặc tính sinh học:
Rễ: Hệ thống rễ phát triển mạnh, rễ chính ăn sâu và rễ phụ ăn lan rộng nên khả năng chịu hạn tốt. Cây có khả năng phát triển trên đất hơi phèn hoặc mặn. Đây là cây rau được chú ý canh tác đầu tiên trên những vùng đất mới khai phá.
Thân: Thân bò có tua cuốn, thân dài ngắn tuỳ giống, thân tròn hay có gốc cạnh. Thân có khả năng ra rễ bất định ở đốt. Tua cuốn phân nhánh mọc ở đốt thân.
Lá: Lá đơn, mọc cách, cuống dài, phiến lá rộng, tròn hay gốc cạnh, có xẻ thùy sâu hay cạn, màu xanh hay lốm đốm trắng.
Hoa: Hoa đơn phái cùng cây, to, cánh màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng. Trong điều kiện khí hậu không thuận hợp cây sinh ra hoa lưỡng tính hay hoa đực bất thụ.
Trái: Đặc điểm của cuống trái là một đặc tính dùng để phân biệt các loài bí trồng. Cuống trái mềm hay cứng, tròn hay gốc cạnh, đáy cuống phình hay không. Vỏ trái cứng hay mềm, trơn láng hay sần sùi, màu sắc vỏ trái thay đổi từ xanh đậm tới vàng, hơi trắng. Hình dạng trái rất thay đổi từ tròn, oval tới dài. Thịt trái dầy hay mỏng, màu vàng đỏ đến vàng tươi. Ruột chứa nhiều hột nằm giữa trái.
Bí đỏ thích nghi rộng với điều kiện vùng nhiệt đới, bí có thể trồng ở đồng bằng cho đến cao nguyên có cao độ 1.500 m. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển từ 18 - 27oC. Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện cường độ chiếu sáng mạnh, có khả năng chịu hạn khá nhưng nếu khô hạn quá dễ bị rụng hoa và trái non.
Nhiệt độ và độ dài ngày đều có ảnh hưởng trên sự hìanh thành tỉ lệ hoa đực và cái trên cây. Ngày dài và nhiệt độ cao thích hợp cho cây ra nhiều hoa đực.
Cây không kén đất nhưng đòi hỏi phải thoát nước tốt, vì cây chịu úng kém nhưng chịu khô hạn tốt. ẩm độ cao không thích hợp cho cây phát triển vì dễ phát sinh bệnh trên lá.
3. Giống:
Các giống địa phương trồng phổ biến. Hai giống được ưa chuộng nhất là:
- Giống Bí Vàm Răng: Trồng phổ biến ở Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng. Trái tròn dẹp, có khía, nặng 3 - 5 kg, trái già màu vàng, vỏ hai da, thịt dầy, dẻo, màu vàng tươi, phẩm chất ngon.
- Giống Bí trái dài Ban Mê Thuộc: Trồng phổ biến ở miền Đông Nam Bộ và cao nguyên. Trái bầu dục dài, nặng 1 - 2 kg, vỏ vàng xanh hay vàng, trơn láng hay sần sùi, thịt mỏng, màu vàng tươi đến vàng cam, ít dẻo, ngon ngọt.
4. Kỹ thuật trồng:
4.1. Thời vụ
Bí đỏ trồng được quanh năm, tùy theo điều kiện đất và nước từng nơi mà bố trí trong mùa khô hay mùa mưa. Mùa khô gieo tháng 11 - 1 dl, thu hoạch tháng 3 - 4 dl; mùa mưa gieo tháng 5 - 6, thu hoạch tháng 8 - 9 dl.
4.2. Làm đất
Bí đỏ rất dễ trồng không kén đất, có thể trồng trên đất bờ hoặc đất ruộng sau mùa lúa, nhưng tốt nhất là đất mới khai phá. Kỹ thuật làm đất bí tương tự như làm đất trồng dưa hấu. Đất được cuốc lên líp đôi, khoảng cách giữa 2 tim mương 5 - 6 m, mương rộng 0,4 - 0,6 m, mặt luống rộng 0,7 m, cao 0,2 - 0,3 m, khoảng cách cây trên luống 0,5 - 0,7 m, mật độ 5.500 - 7.500 cây/ha.
4.3. Gieo hạt
Hột gieo thẳng hoặc gieo trong bầu, thường ngâm ủ cho nẩy mầm trước khi gieo. Lượng giống gieo 1 - 1,5 kg/ha tùy giống. Cây con đem trồng có 1 - 2 lá nhám.
4.4. Chăm sóc
4.4.2 Tưới nước: Cung cấp đầy đủ nước trong mùa khô, nhất là giai đoạn ra hoa. Thoát nước tốt trong mùa mưa không để rễ cây bị úng.
4.4.3 Tạo hình: Khi bí dài 1m, lấy đất đắp đoạn thân giúp cây phát triển rễ phụ tăng khả năng hút chất dinh dưỡng, cây sinh trưởng tôt hơn. Bí có khả năng đâm nhánh mạnh nên ra rất nhiều nhánh. Mỗi cây chỉ nên chừa 2 - 4 nhánh tốt nhất hoặc dây chánh và 1 - 2 dây nhánh, tiả hết các nhánh khác làm rau ăn để cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái. Cũng tỉa bớt các lá chân hoặc lá vàng úa, giúp thông thoáng ong bướm dể tìm hoa hút nhụy, tăng tỉ lệ đậu trái.
4.4.4. Để trái: Hoa đực ở bí đỏ rất nhiều gấp hơn 20 lần hoa cái, hoa đực có sớm hơn hoa cái vài ba ngày. Khoảng 35 ngày sau khi trồng hoa cái bắt đầu nở. Hoa nở vào buổi sáng sớm, thường thì hoa đực và hoa cái trên một cây nở hoa không cùng lúc mà hạt phấn chỉ thụ tinh trong vài giờ, vì vậy thụ phấn nhân tạo rất cần thiết để đảm bảo năng suất. Ngắt hoa đực, bỏ hết đài và cánh hoa, quét nhị đực lên nướm vòi nhụy. Không nên phun thuốc trừ sâu xông hơi mạnh trong thời gian chấm nụ. Mỗi cây thường để 1 - 3 trái tùy theo khoảng cách trồng và độ phì của đất.
4.4.5. Phòng trừ sâu bệnh: tương tự như trên dưa hấu, khổ qua.
5. Thu hoạch:
Nếu ăn ngay hoặc tiêu thụ nhanh tại điạ phương có thể thu trái non (khoảng 30 ngày sau khi đậu trái), trái thu non hái được nhiều trái và dây lâu tàn. Nếu để dự trử lâu nên thu khi trái thật già vỏ cứng có màu vàng, có lớp sừng, có phấn, cuống vàng và cứng (khoảng 3 - 4 tháng sau khi trồng) tùy theo giống, dùng dao cắt cả cuống đem về bôi vôi vào mặt cắt giữ nơi thoáng mát. Năng suất 20 - 30 tấn/ha.
6. Để giống:
Cần chọn trái đều đặn, nằm trên dây chính, thật già, vỏ cứng chắc, thu hoạch khi dây đã tàn, cất giữ trong nhà ít nhất 1 tháng mới bổ ra lấy hạt. Hạt được rửa sạch, phơi khô để vào chai kín cất giữ.